Các Văn Kiện Của Giáo Hội Liên Quan Đến Đời Sống Thánh Hiến

CÁC VĂN KIỆN CỦA GIÁO HỘI
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN


Công đồng Vatican II

1. Perfectae Caritatis (PC): The Decree on the Renewal of Religious Life (Sắc lệnh “Đức ái trọn hảo”, nói về việc canh tân và thích nghi đời tu). PC đưa ra những nguyến tắc hướng dẫn công cuộc canh tân. PC nhắm tới 2 mục tiêu chính sau đây:
- Thúc đẩy sự canh tân tinh thần của tất cả các tu sĩ.
- Thích nghi đời tu vào bối cảnh hiện tại. Sự canh tân này cần dựa trên những nguyên tắc thần học nền tảng của chính đời tu. Vì vậy, trong văn kiện này, công đồng muốn trình bày các chiều kích của toàn thể đời tu, cũng như của các lời khuyên Phúc âm như: chiều kích Kitô, Thần khí, Giáo hội, nước trời mai hậu.
Văn kiện gồm 25 số, không có phân chương mục. Ngoài lời mở và kết luận, sắc lệnh bàn đến việc canh tân dưới 5 khía cạnh: những nguyên tắc canh tân, canh tân nội tâm, canh tân tùy theo mỗi hình thức tu trì, canh tân các yếu tố cốt yếu, canh tân một số điểm cụ thể.
Mở đầu (số 1): ý nghĩa và giá trị của đời tu trong Giáo hội.
1. Những nguyên tắc hướng dẫn việc canh tân:
a. Năm nguyên tắc lý thuyết (số 2): đi theo Đức Kitô như tiêu chuẩn tối hậu của đời tu; trung thành với tinh thần, ý định của đấng sáng lập; tham dự vào đời sống Giáo hội hôm nay; tìm hiểu và thích nghi vào hoàn cảnh thế giới hiện đại; canh tân đời sống thiêng liêng của mỗi người.
b. Ba lãnh vực cần phải canh tân thích nghi (số 3): lối sinh sống, cầu nguyện, hoạt động; cách thức quản trị; hiến pháp và qui luật.
c. Những người có trách nhiệm canh tân thích nghi (số 4): tất cả mọi phần tử, các bề trên và Tu nghị.
2. Việc canh tân cá nhân
a. Những yếu tố chung cho hết mọi hình thức tu trì (số 5): Tận hiến cho Thiên Chúa, phục vụ Giáo hội, thông dự vào mầu nhiệm Vượt qua, lấy Đức Kitô làm trung tâm cuộc đời, vừa chiêm niệm vừa hoạt động.
b. Những nguồn mạch của đời sống thiêng liêng (số 6): vun trồng lòng mến; cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, cử hành phụng vụ.
3. Việc canh tân tùy theo mỗi hình thức tu trì
a. Các dòng thuần túy chiêm niệm (số 7)
b. Các dòng hoạt động tông đồ (số 8)[1]
c. Các dòng đan tu, kinh sĩ, hành khất (số 9)
d. Các dòng không làm giáo sĩ (số 10)
e. Các tu hội đời (số 11)
4. Canh tân những yếu tố cốt yếu
a. Khiết tịnh (số 12)
b. Khó nghèo (số 13)
c. Vâng lời (số 14)
d. Đời sống chung (số 15)
5. Chín điểm cụ thể
a. Nội vi dòng kín (số 16)
b. Tu phục (số 17)
c. Huấn luyện các phần tử (số 18)
d. Việc thành lập dòng mới (số 19)
e. Việc duy trì, đổi mới và từ bỏ một số công tác (số 20)
f. Các dòng và đan viện đang kiệt quệ (số 21)
g. Liên hiệp giữa các dòng và đan viện (số 22)
h. Hiệp hội các bề trên cao cấp (số 23)
i. Cổ động ơn gọi (số 24)

Việc dung hòa giữa trung thành với sự thích nghi và canh tân không dễ dàng. Những năm sau công đồng Vatican II đã cho thấy những khó khăn đó: nhiều dòng đan tu muốn lấy lại ơn gọi nguyên thủy không có chức linh mục của mình; trái lại, một số dòng giáo dân (nam) lại muốn chuyển hướng sang dòng giáo sĩ. Bên Âu Mỹ, nhiều dòng đã bỏ các cơ sở giáo dục và y tế, vì không còn thích hợp, để tìm những cách thức mới phục vụ người nghèo.[2]

2. Lumen Gentium: Dogmatic Constitution on the Church (Hiến chế tín lý về Hội thánh), chương VI: Công đồng cho thấy vị trí của đời tu trong mầu nhiệm Giáo hội. Sau khi nói tới Hội thánh như là một mầu nhiệm, xuất phát từ kế hoạch tình thương của Ba Ngôi Thiên Chúa (chương I), công đồng trình bày Hội thánh như dân Thiên Chúa trong giòng lịch sử (chương 2). Các tu sĩ không thuộc về cơ chế phẩm trật của Giáo hội (chương III) hoặc hàng ngũ giáo dân (chương IV), nhưng được xếp vào bản chất thánh thiện (chương V) và cánh chung (chương VI) của Giáo hội.
Sau khi trình bày mầu nhiệm và cơ chế phẩm trật của Giáo hội trong 4 chương đầu, ở chương V, công đồng bàn đến ơn gọi nên thánh của mọi Kitô hữu. Mọi Kitô hữu đều được kêu gọi nên thánh tùy theo địa vị, bậc sống của mình (số 41). Việc nên thánh bao hàm sự thực hành đức ái, và cách riêng là thực hành các lời khuyên Phúc âm dưới một hình thức nào đó (số 42). Chính trong bối cảnh đó, nghĩa là bổn phận nên thánh, mà công đồng bàn về các tu sĩ (chương VI). Sự nên thánh hệ tại việc kết hợp với Thiên Chúa qua đức ái, mục tiêu này đạt tới mức độ viên mãn nơi các thánh trên trời (chương VII), mà đức Maria là một tiêu biểu rạng rỡ nhất (chương VIII). Các tu sĩ không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, nhưng gắn liền với sự thánh thiện của Giáo hội. Các tu sĩ ở đây bao gồm tất cả những ai tuyên giữ các lời khuyên Phúc âm với lời khấn hay “dây ràng buộc thánh khác” (số 44). Bố cục chương VI như sau:
- Số 43: Hàng ngũ những người tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm trong Giáo hội.
- Số 44: Bản chất thần học của đời tu: dâng mình cho Chúa để phụng sự Ngài và đồng thời phục vụ sứ mệnh của Giáo hội. Các tu sĩ đóng vai trò “dấu chỉ và chứng tá” trong Giáo hội: họ làm sống lại lối sống tại thế của Đức Kitô, họ nêu cao giá trị siêu việt của nước Chúa, họ bày tỏ quyền năng của Thánh Thần tác động trong Giáo hội, họ thúc đẩy mọi người tiến về đường trọn lành, cũng như nhắc nhở toàn thể dân Chúa hướng về cứu cánh mai hậu của mình.
- Số 45: Mối liên hệ giữa hàng giáo phẩm và hàng ngũ tu trì. Giáo hội nhìn nhận và phê chuẩn các bản Lề luật của các hội dòng. Giáo hội đứng ra chấp nhận lời khấn của các tu sĩ và dâng hiến họ cho Thiên Chúa.
- Số 46: Giá trị cao qúi của bậc tu trì. Họ kéo dài sự hiện diện của Đức Kitô giữa lòng nhân loại: họ thăng tiến các giá trị nhân bản và góp phần vào việc kiến thiết một xã hội nhân đạo hơn.
- Số 47: khuyến khích các tu sĩ hãy bền đỗ trong ơn gọi.
Tóm lại, LG trình bày đời sống thánh hiến dưới khía cạnh thần học, lồng trong mầu nhiệm của Hội thánh.
Trong hai văn kiện trên, công đồng cố gắng trình bày nội dung thần học phong phú của đời tu, vượt lên trên quan niệm nặng về pháp lý đã có trước đó. Cách chung, công đồng muốn nêu bật 2 khía cạnh sau:
- Đời tu nằm trong bản chất của Hội thánh. Tuy rằng các hình thức tu trì dần dần xuất hiện trong giòng lịch sử của Hội thánh, nhưng không thể coi nó như cái gì phụ thuộc, bên ngoài. Nền tảng của đời tu chính là Phúc âm sống, nghĩa là việc bắt chước gương sống của Đức Kitô, họa lại cuộc sống của Ngài và mang ra thực hành những gì Ngài đã giảng dạy, cách riêng trong bài giảng trên núi. Đời tu là một ân huệ của Chúa Thánh Thần ban “cho” Hội thánh, “vì” Hội thánh.
- Đời tu gắn chặt với ơn gọi của người Kitô hữu, là một lối thực thi những yêu sách của bí tích Rửa tội một cách triệt để hơn. Những người dấn thân vào nếp sống ấy lãnh nhận một hồng ân đặc biệt của Chúa, và nói được là họ được thánh hiến một lần nữa.
Công đồng Vatican II đã đánh dấu một mốc quan trọng trong việc canh tân Giáo hội, một cuộc canh tân bằng cách vừa trở về nguồn, vừa lưu ý tới những yêu sách của thời đại. Đời tu cũng nằm trong luồng canh tân của toàn thể Giáo hội: canh tân bằng việc trở về nguồn gốc của đời tu (bước theo Đức Kitô) và của mỗi hội dòng (ý định của đấng sáng lập), đồng thời thích nghi với hoàn cảnh hiện tại. Thực ra công đồng chỉ vạch ra những hướng đi, chứ chưa thể nào đạt tới đích điểm. Việc canh tân còn phải được tiếp tục không ngừng, bởi vì không những các hoàn cảnh xã hội không ngừng biến chuyển, nhưng nhất là vì cuộc canh tân nội tại (nhằm đạt tới đức ái trọn hảo) không bao giờ chấm dứt. Đó là lý do ra đời những văn kiện hậu công đồng. Chúng có thể được coi như những chỉ dẫn cho việc canh tân đời tu dưới nhiều phương diện: tinh thần, pháp chế, chiều kích chiêm niệm, hiệp thông huynh đệ, truyền giáo,… Bên cạnh những qui định thực tiễn có tính cách tạm thời, các văn kiện của công đồng Vatican II còn chứa đựng những đạo lý, nội dung thần học phong phú vượt thời gian, và luôn được các văn kiện hậu công đồng trích dẫn. Từ công đồng Vatican II, các văn kiện đều mang nặng tính chất thần học, tu đức, mục vụ, kể cả trong các văn bản pháp lý như bộ giáo luật (BGL). Các tu sĩ có thể tìm thấy nơi đây chất lượng cho những bài suy niệm, những khóa tĩnh tâm bồi dưỡng.
Ngoài ra, Vatican II cũng nói tới tu sĩ trong
- Hiến chế về Phụng vụ (SC), số 15- 18, 55, 57, 80, 95, 98, 99, 101, 111, 115
- Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay (GS), số 38, 43
- Hiến chế Tín lý về Mạc khải (DV), số 25
- Sắc lệnh về Tác vụ Linh mục (PO), số 6, 8- 9
- Sắc lệnh về Đào tạo Linh mục (OT), số 2, 19
- Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân (AA), số 21, 23, 25- 26
- Sắc lệnh về các Giáo hội Công giáo Đông phương (OE), số 6, 22
- Sắc lệnh về Hiệp nhất (UR), số 6, 10, 15
- Sắc lệnh về các Phương tiện Truyền thông Xã hội (IM), số 15, 20
- Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo (GE), số 10
- Sắc lệnh về Chức vụ Giám mục, Christus Dominus (CD): số 32-35: Nói về việc hoạt động mục vụ của các tu sĩ trong giáo phận. Công đồng đặt ra những qui tắc cho mối liên hệ giữa Giám mục và tu sĩ. Những qui tắc này sẽ được khai triển trong văn kiện Mutuae Relationes, 1978, làm nền tảng cho các điều 678- 683 của BGL 1983.
- Sắc lệnh về truyền giáo, Ad Gentes (AG): số 15 (vai trò bất khả thay thế), số 18- 19 (phát huy đời tu ở các xứ truyền giáo), số 20 (lòng nhiệt thành của các tu sĩ), số 27 (các tu hội truyền giáo), số 32- 33 (hợp tác với Giáo hội địa phương trong hoạt động truyền giáo), số 40 (nhiệm vụ truyền giáo của các tu sĩ)
Như vậy, chỉ có 2/16 văn kiện của công đồng không nói về các tu sĩ , đó là: Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các Tôn giáo ngoài Kitô giáo (NA) và Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo (DH).

II. Đức Phaolô VI (1963- 1978)
Ngay sau khi bế mạc công đồng, mối quan tâm được đặt vào việc canh tân sửa đổi hiến pháp, trở về nguồn gốc của mỗi hội dòng. Công trình của Đức Phaolô VI là thực thi các quyết định của Công đồng. Nhiều Tự sắc được ban hành với giá trị nhất thời, nghĩa là cho đến khi có BGL mới. Chúng liên can đến nhiều vấn đề như duyệt lại hiến pháp, quyền hạn của các bề trên, tương quan với Giám mục, v. v. Tự sắc thường được nhắc đến là Ecclesiae Sanctae, 6/8/1966, quan tâm đến việc canh tân sửa đổi hiến pháp, việc đọc kinh thần vụ, tâm nguyện, việc khổ chế, khó nghèo, đời sống nội bộ, nội vi, huấn luyện, liên hiệp và bãi bỏ các dòng, hiệp hội các bề trên cao cấp, trở về nguồn gốc của mỗi hội dòng,... Từ khi BGL được ban hành (1983), những văn kiện này không còn giá trị nữa. Cũng vậy, huấn thị của Bộ tu sĩ về việc huấn luyện “Renovationis Causam” (1969) đã được thay thế bởi huấn thị “Potissimum Institutioni” (1990)

1. Evangelica Testificatio (ET), 29/6/1971: The Apostolic Exhortation on the Renewal of Religious Life (Tông huấn Chứng tá Tin Mừng): đáp lại những thách đố của thời đại. Khi bắt tay vào công cuộc canh tân, nhiều tu sĩ và hội dòng đã đâm ra hoang mang do dự, không rõ đâu là những giá trị nền tảng của đời tu và đâu là những yếu tố lỗi thời cần thay đổi. ET, với giọng văn đối thoại thân mật, muốn giải đáp cho vấn nạn đó.
Đức Phaolô VI ôn lại những giáo huấn của công đồng về đời tu và quảng diễn vài khía cạnh mà thời thế đặt lên, như trong việc sống khó nghèo, đời sống cộng đoàn,… Tông huấn trình bày những giá trị thần học của đời tận hiến nhìn dưới ánh sáng của Tin mừng, những qui tắc pháp lý hầu như hoàn toàn vắng bóng. Đức Giáo hoàng nhấn mạnh đến việc củng cố con người nội tâm, nguyên lý hợp nhất toàn thể cuộc sống (số 31- 34; 43- 45).
Ngoài nhập đề và kết luận, bố cục gồm có 4 phần:
Nhập đề: chứng tá Tin mừng giữa dân Chúa (số 1- 6)
1. Những hình thức tu trì: chiêm niệm, hoạt động tông đồ. Tất cả đều đòi hỏi phải kết hợp với Chúa (số 7- 12).
2. Những cam kết chính yếu: ba lời khấn khiết tịnh (số 13- 15), khó nghèo (số 16- 22) và vâng phục (số 23- 29).
3. Lối sống: chứng tá về đời sống nội tâm (số 30- 38) và huynh đệ (số 39- 41)
4. Việc canh tân và tăng trưởng thiêng liêng: cầu nguyện, thinh lặng, thông dự bí tích và tham gia vào sứ mạng của Giáo hội (số 42- 50).
Lời nhắn nhủ cuối cùng (số 51- 56)

2. Evangelii Nuntiandi, EN, 1975 (Tông huấn Loan Báo Tin Mừng): số 79

III. Đức Gioan Phaolô II (1978- 2005)

1. Vita Consecrata (VC), 25/3/1996: Post-Synodal Apostolic Exhortation (Tông huấn về Đời sống thánh hiến), là kết quả của THĐGM thế giới về chủ đề “Đời sống thánh hiến và sứ mệnh của đời sống này trong Giáo hội và trong thế giới”. VC đã đúc kết các văn kiện của Giáo hội, cũng như những suy tư thần học về đời sống thánh hiến từ công đồng Vatican II. Đặc biệt, tông huấn khai triển hai chiều kích thánh hiến và sứ mệnh của đời sống thánh hiến. Tông huấn đã nối kết và dung hòa hai ý niệm này. Hai ý niệm này bổ sung cho nhau, tạo nên căn tính của đời sống thánh hiến.

2. Tông huấn Redemptionis Donum (RD-Hồng ân cứu độ), 25/3/1984: đào sâu chiều hướng thần bí của sự tận hiến như là đời sống mới, đời sống giao ước.
Nhân dịp năm thánh mừng ơn cứu độ (1983- 1984, kỷ niệm 1950 năm biến cố Thập giá và Phục sinh), đức Gioan Phaolô II viết một tông thư cho các tu sĩ, trình bày mối liên hệ giữa sự tận hiến tu trì và mầu nhiệm Cứu chuộc. Với giọng văn của một bài suy niệm, Đức Giáo hoàng mời gọi các tu sĩ hãy khám phá những chiều kích thần bí sâu xa của việc tận hiến. Đó là một “giao ước tình yêu” với Chúa Cha, trong Đức Kitô, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần (số 8). Qua giao ước đó, người tu sĩ chia sẻ với Chúa Cha và Đức Kitô mối ưu tư về việc cứu rỗi nhân loại và tham gia vào sứ mệnh tông đồ của Giáo hội. Việc tuyên giữ ba lời khuyên Phúc âm biểu lộ việc thông dự vào mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô (số 10)
Bố cục văn kiện khá đơn giản. Có 7 chương (gồm cả nhập đề và kết luận), 17 số. Đức Giáo hoàng cho thấy ý nghĩa sâu xa của những yếu tố làm nên đời tận hiến: Ơn gọi (số 3- 6), tận hiến (số 7- 8), các lời khuyên Phúc âm (số 9- 13), lòng yêu mến Giáo hội qua việc làm chứng tá và hoạt động tông đồ (số 14- 15).

3. Novo Millennio Ineunte: Apostolic Letter to the Bishops, Clergy and Lay Faithful at the Close of the great Jubilee of the Year 2000 (Tông thư Bước vào Ngàn năm mới).

4. Redemptoris Missio, RM, 1990 (thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Chuộc): số 69- 70.

5. Ecclesia in Asia, EA, số 44

6. Redemptor Hominis: Thông điệp Đấng Cứu độ con người

7. Thư gởi các người tận hiến nhân dịp Năm Thánh Mẫu (22/5/1988): mang hình thức một bài suy niệm (chứ không phải là một văn kiện đạo lý) với Đức Maria về ý nghĩa đời sống thánh hiến, dựa theo ba ý niệm: ơn gọi, thánh hiến và hoạt động tông đồ. Ba điểm này được liên kết với ba mầu nhiệm: Truyền tin, Vượt qua, Hiện xu